top of page

LÝ CÔNG UẨN

  • Ảnh của tác giả: Tạp nham
    Tạp nham
  • 7 thg 5, 2020
  • 8 phút đọc

Tượng đài Lý Thái Tổ (Hoàn Kiếm, Hà Nội)

Lý Công Uẩn, là người làng Cổ Pháp, tục truyền rằng Lý Công Uẩn không có cha, mẹ là Phạm thị, đi chơi ở chùa Tiêu Sơn, cùng với thần nhân giao hợp rồi có chửa. Lý Công Uẩn sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 (974) thời Đinh. Ba tuổi, ông được mẹ đem lên chùa Cổ Pháp, gửi cho sư trụ trì là Lý Khánh Văn nuôi dưỡng. Thuở nhỏ, ông đã được nhà sư Vạn Hạnh - từng là một trong các cố vấn của vua Lê Đại Hành, sau cùng là một quân sư đắc lực cho Lý Công Uẩn, khen rằng: "Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ".

Lớn lên, ông làm quan thời Tiền Lê, đến chức Tả thân vệ điện tiền Chỉ huy sứ. Có cơ hội thăng tiến cao trong triều đình Tiền Lê như thế, cũng là rất nhiều sự giúp đỡ của sư Vạn Hạnh. Khi vua Lê Trung Tông băng hà, Lý Công Uẩn ôm xác vua mà khóc, Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) xét thấy là người trung hiếu, nên tiếp tục giữ lại làm quan.

Thuở bấy giờ, do Lê Long Đĩnh làm lắm điều bạo ngược, lòng người oán than. Hơn nữa, đi chinh chiến, bắt được người Man, khi tra tấn, những người ấy phạm đến húy kị vua Lê Đại Hành, là cha ruột Lê Long Đĩnh, mà còn lấy đó làm thích chí. Dù Lê Long Đĩnh cũng có những công trạng với đất nước, tuy nhiên thói hoang dâm và tàn ác đã khiến lòng dân bất nhất. Lê Long Đĩnh làm vua được 4 năm thì băng hà thọ 24 tuổi. Cái danh Ngọa Triều cũng là do vua đắm say tửu sắc, hoang dâm vô độ, nên sau này bị bệnh trĩ, phải nằm mà thị triều.

Khi Lê Long Đĩnh mất, con còn quá nhỏ, vả lại do sự tàn ác của Lê Long Đĩnh, lòng người oán giận. Lúc ấy, họ Lý đang thịnh, trong triều Lý Công Uẩn thế lực lớn mạnh, nhận được nhiều sự ủng hộ. Lý Công Uẩn được tôn làm hoàng đế, niên hiệu 'Thuận Thiên', các quan dâng tôn hiệu là 'Phụng Thiên Chí Lý Ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quảng Trạch Chương Minh Vạn Bang Hiển Ứng Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Trị Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng Đế', vua nhận. Tôn hiệu của vua Lý Thái Tổ, Ngô Sỹ Liên từng nhận xét: "Kính thư tôn xưng vua Nghêu là Phóng Huân, vua Thuần là Trùng Hoa. Bề tôi đời sau lấy đức hạnh mà tôn xưng vua, đến mười chữ đã là nhiều lắm rồi. Bấy giờ bề tôi dâng tôn hiệu đến 50 chữ, thế là không biết kê cứu cổ học, mà chỉ biết nịnh vua. Thái Tổ nhận mà không từ, đó là muốn khoe khoang để đời sau không ai được hơn. Thế là sai. Sau tôn Thái Tông cũng gần 50 chữ cũng là bắt chước từ đây".

Lý Công Uẩn lên ngôi, cũng phải kể đến sự trợ giúp đắc lực của sư Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc. Trước đây, tại châu Cổ Pháp có cây gạo bị sét đánh, có người nhìn chỗ xét đánh, trông thấy chữ rằng:

"Thụ căn điêu điểu, Mộc biểu thanh thanh, Hòa đao mộc lạc, Thập bát tử thành, Đông a nhập địa, Mộc dị tái sinh, Chấn cung kiến nhật, Đoài cung ẩn tinh, Lục thất niên gian, Thiên hạ thái bình."

Dịch nghĩa: Gốc rễ thăm thẳm, Ngọn cây xanh xanh, Dao chặt cây rụng, Mười tám hạt thành, Cành đâm xuống đất, Cây khác lại sinh, Đông mặt trời mọc, Tây sao náu mình, Khoảng sáu, bảy năm, Thiên hạ thái bình.'

(Tương truyền bài thơ do sư Vạn Hạnh viết)

Sư Vạn Hạnh cũng từng tiên đoán: "Thụ căn điểu điểu", chữ căn nghĩa là gốc, gốc tức là vua, chữ điểu đồng âm với yểu, nên hiểu là yếu. "Mộc biểu thanh thanh", chữ biểu nghĩa là ngọn, ngọn tức là bề tôi, chữ thanh âm gần giống với chữ thanh nghĩa là thịnh. Hòa, đao, mộc [ghép lại] là chữ Lê. Thập, bát, tử [ghép lại] là chữ Lý. "Đông A" là chữ Trần, "nhập địa" là phương Bắc vào cướp. "Mộc dị tái sinh" là họ Lê khác lại sinh ra. "Chấn cung kiến nhật", chấn là phương Đông, kiến là mọc ra, nhật là thiên tử. "Đoài cung ẩn tinh", đoài là phương Tây, ẩn cũng như lặn, tinh là thứ nhân. Toàn bộ mấy câu này ý nói là vua thì non yểu, bề tôi thì cường thịnh, họ Lê mất, họ Lý nổi lên, thiên tử ở phương đông mọc ra thì thứ nhân ở phương tây lặn mất, trải qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình." Sư Vạn Hạnh chính là người tạo dư luận, thúc đẩy Lý Công Uẩn lên ngôi. Còn với Đào Cam Mộc, ông là người thực hiện, xây dựng và tiến hành nhanh chóng việc đổi ngôi, đưa Lý Công Uẩn chạm đến hoàng vị. Hai vị ấy, vừa là công thần Tiền Lê, nay lại phò tá, xây dựng nhà Lý có thời gian trị vì dài nhất trong lịch sử thời quân chủ của Việt Nam. Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đều ban chức tước cho hai vị ấy, còn gả con gái là An Quốc Công chúa cho Đào Cam Mộc

Sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn cho dời kinh về thành Đại La, cải thành Thăng Long. Khi đỗ thuyền ở dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nên mới cải tên thành Thăng Long. Vua cho xây dựng kinh thành Thăng Long, đồng thời xây dựng nhiều chùa chiền. Âu cũng là lẽ đương nhiên, thuở nhỏ ông được cha nuôi Lý Khánh Văn nuôi dưỡng trong chùa, có thầy là sư Vạn Hạnh. Ông một lòng hướng Phật, cũng bởi lẽ đó. Lê Văn Hưu nói: "Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập, mà đã xây dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức (trước là châu Cổ Pháp), lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời rơi xuống, đất không phải là rừng làm thay, há chẳng phải là vét màu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thải Tổ để phép lại như thế, chẳng trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đây". Lời nhận xét này, chính là sự khẳng định cho sự sùng Phật của vua, cũng vì thế, các đời vua kế tiếp của nhà Lý cũng có lòng tôn kính Phật như thế. Dưới thời nhà Lý, phật giáo phát triển cường thịnh, phật giáo cũng góp phần làm giàu thêm nét văn hóa của nước ta trong thời kỳ này.

Lý Thái Tổ dời đô về đất Thăng Long, tạo nền móng cho sự phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam. Triều Lý, thời gian trị vì lâu nhất với 216 năm. Kế đó là các thời đại Nhà Trần, Hậu Lê cũng có thời gian trị vì lâu dài, ổn định, đồng thời, mang nhiều chiến công hiển hách về cho dân tộc. Từ đó, có thể thấy lựa chọn dời đô của Lý Thái Tổ quả là đúng đắn.

Dưới thời Lý Thái Tổ, thường xuyên phải vận nghề dùng binh. Do đó, các hoàng tử đều phong tước vương, thường xuyên cầm quân đánh giặc. Lý Thái Tổ cũng mấy lần thân chinh dẹp loạn, dẹp yên bờ cõi. Nước ta, ở giai đoạn này vẫn phải triều cống cho nhà Tống, nhà tống phong Lý Thái Tổ là Giao Chỉ quận vương, sau lại gia phong Nam Bình Vương. Ngoài ra, Chiêm Thành và Chân Lạp đều sang triều cống nước ta, nên việc bang giao thời ấy đều trị yên. Vua cũng cải sửa việc trong nước, chia lại đất, định lại thuế. Vua cho công chúa coi việc trưng thu thuế.

Thái tổ trị vì 19 năm thì mất, thọ 55 tuổi. Sau Thái tử Phật Mã lên thay.

Tài liệu tham khảo: Đại Việt Sử ký Toàn thư, Việt Nam Sử lược, Ngàn năm áo mũ.

Lý Công Uẩn hiện nay vẫn chưa rõ thân phụ. Có nhiều luồng ý kiến cho rằng ông là con của sư Vạn Hạnh, cũng có ý kiến cho rằng ông là con của trụ trì Lý Khánh Văn, vì chẳng thể có chuyện thần nhân giao hợp cùng con người mà sinh ra long mệnh được, âu chỉ là cách nói để tăng thêm lòng tin vào 'Chân mệnh thiên tử' của Lý Công Uẩn. Ngoài bài thơ cây gạo bị sét quật gãy, còn một chuyện có lẽ cũng do sư Vạn Hạnh để giúp Lý Công Uẩn lên ngôi: Xưa ở chùa Cổ Pháp, có con sinh được con chó đốm, trên lưng, những vân đen xếp thành chữ thiên tử, ý nói người mang chân mệnh thiên tử sinh vào năm tuất. Rất có thể, ông biết cha ông là ai, nhưng sợ tổn hại đến công danh, nên không đụng tới, ông cũng truy phong cha là Hiển Khánh Vương. Lý Công Uẩn tuy không tròn phép tôi, khi thái tử nhà Lê vẫn còn, nhưng lại tự xưng đế, nhưng ông lại là một bậc minh quân, xây dựng Đại Cồ Việt (sau Lý Thánh Tông đổi thành Đại Việt) phát triển vững mạnh từ kinh tế, xã hội cho đến chính trị, quân sự. ( Phần này là tự nói, nhiều phần tự suy diễn, ít giá trị để đàm luận chính sử).


Tranh: Vẽ theo quy chế tiện phục của vua thời Lý, theo Ngàn năm áo mũ. Vua cũng như dân thường, ngày thường mặc giao lĩnh, quấn thường tía hoặc đen, đi chân đất, khoác ngoài áo sam, dân thường mặc áo sam tối màu, riêng vua mặc áo sam màu vàng, búi tóc chùy khế, vua cài trâm vàng. Phía sau là Rồng thời Lý, con rồng mang nhiều nét đặc trưng nhất thời kỳ phong kiến Việt Nam. Tranh tự vẽ nên còn nhiều sai sót, sẽ cố gắng cải thiện trong những bài tiếp theo.

Dưới đây là một phần giải nghĩa bài thơ có sử dụng trong bài viết này:

  • Câu 3: chữ Hòa (禾) + chữ Đao (刀) + chữ Mộc (木) ghép lại thành chữ Lê (黎). Câu 3 tiên đoán nghĩa cây đổ, nhà Tiền Lê mất.

  • Câu 4: chữ Thập (十) + chữ Bát (八) + chữ Tử (子) ghép lại thành chữ Lý (李). Câu 4 tiên đoán nhà Lý thay nhà Lê.

  • Câu 5: chữ Đông (東) ghép với chữ A (阿) thành chữ Trần (陳). Câu 5 tiên đoán họ Trần vào nước Việt làm vua.

  • Câu 6: cây khác lại sinh. Sấm ra đời thời Lê. Cây lê khác lại sinh, tiên đoán nhà Hậu Lê kế tục nhà Trần

  • Câu 7: phương Đông có mặt trời, ứng vào nhà Mạckhởi xuất từ phía Đông thay nhà Hậu Lê

  • Câu 8: sao náu mình phía tây. Có các ý kiến khác nhau về câu này. Có ý kiến cho rằng câu này chỉ chúa Trịnh đóng phủ ở phía tây kinh thành Thăng Long, "náu mình" là không ra mặt xưng vua nhưng lại nắm thực quyền. Có ý kiến cho rằng "phía tây" trong câu 8 chỉ nhà Tây Sơn

  • Câu 9 và câu 10: có ý kiến cho rằng "lục thất" chỉ nhà Nguyễn, nhưng cũng có ý kiến cho rằng chưa có lời giải đáp cụ thể cho 2 câu này.

  • Nhiều sử gia cho rằng hai câu "Đông a nhập địa, Mộc dị tái sinh" là sau này do sử thần nhà Trần và nhà Hậu Lê thêm vào, do hai câu này chỉ xuất hiện trong các sách sử từ sau thời nhà Trần.

(Nguồn Wikipedia)


Bài đăng liên quan

Xem tất cả

Bình luận


Đăng ký để nhận những bài viết tiếp theo từ mình nhé!

Cảm ơn đã đăng kí.

© 2023 by The Book Lover. Proudly created with Wix.com

  • YouTube
  • Instagram
  • Facebook
bottom of page