top of page

LÝ PHẬT MÃ

  • Ảnh của tác giả: Tạp nham
    Tạp nham
  • 13 thg 5, 2020
  • 6 phút đọc

Lý Phật Mã, còn có tên khác là Đức Chính, là trưởng tử của Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn. Mẹ là Linh Hiển Hoàng hậu, sinh vào ngày 26 tháng 6 năm Canh Tý (1000), năm Ứng Thiên thứ 7 thời Lê. Lý Phật Mã có bảy nốt ruồi sau gáy, như sao Thất tinh (Chòm Bắc đẩu). Ngày nhỏ cùng đám trẻ chơi đùa, có thể sai bảo được chúng, bắt chúng dàn hầu trước sau như nghi vệ các quan theo hầu vua. Lý Công Uẩn thấy vậy, nói đùa rằng: "Con nhà tướng nên bắt chước việc quân, cần gì phải kẻ rước người hầu" Lý Phật Mã liền đáp: "Kẻ rước người hầu thì có gì xa lạ với con nhà tướng? Nếu xa lạ thì ngôi vua sao không mãi họ Đinh mà lại về họ Lê, đều là do mệnh trời thôi". Thấy con trẻ còn nhỏ, đã có chính kiến riêng, Lý Công Uẩn càng thêm yêu mến. Khi lên ngôi hoàng đế, Lý Thái Tổ lập Phật Mã làm Đông cung thái tử. Sau phong làm Khai Thiên Vương, cấp phủ bên ngoài, cốt là để thấu hiểu dân tình.

Năm Thuận Thiên thứ 11 (1020), khi được vua cha cho làm Nguyên soái, thống lĩnh đại quân sang dẹp loạn Chiêm Thành. Đại quân vượt biển, đến núi Long Tỵ, có rồng vàng xuất hiện ở thuyền ngự, chỉ một mình Phật Mã đón lấy con rồng. Sau đó, Phật Mã khải hoàn trở về, còn bắt được tướng giặc mang về.

Cuộc đời của Lý Thái Tổ Lý Phật Mã, quan trọng nhất phải kể đến Loạn Tam Vương. Khi Lý Thái Tổ mới băng hà, chưa kịp tế táng chỉnh chu lại xảy ra việc các hoàng tử tranh giành ngôi báu. Sau khi Lý Thái Tổ mất, bề tôi đến cung Long Đức xin thái tử vâng chiếu lên ngôi. Cùng lúc ấy, ba vị hoàng tử là Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương, Vũ Đức Vương hay tin, liền đem quân ở phủ mình phục sẵn trong cấm thành. Đông Chinh Vương phục ở Long Thành, Dực Thánh Vương và Võ Đức Vương phục trong cửa Quảng Phúc, đợi thái tử đến thì đánh úp. Thái tử từ cửa Tường Phù vào đến điện Càn Nguyên, biết có biến, liền cho quân đóng chặt cửa điện, sai quân lính canh phòng cẩn trọng, đồng thời tham vấn với các quan tả hữu: "Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay tam vương làm việc bất nghĩa, quên đi di mệnh của Tiên đế, mưu chiếm ngôi báu, các khanh thấy thế nào?" Nội thị là Lý Nhân Nghĩa tâu với vua nên kháng, rồi đưa tích cũ của Đường Thái Tông (nhà Đường, TQ) và Chu Công (nhà Chu, TQ) mà nói. Phật Mã đáp lại: "Ta há lại không biết chuyện Đường Thái, Chu Công sao? Ta chỉ muốn che giấu tội ác của tam vương, khiến họ tự ý rút quân chịu tội, vẹn toàn tình cốt nhục là hơn". Nhưng cuối cùng, khi tình thế ngày càng gấp, Thái tử toan không thể ngăn cản, nói: "Thế đã như vậy, ta còn mặt mũi nào trông thấy tam vương nữa. Ta chỉ biết làm lễ thành phục, đứng hầu Tiên đế, ngoài ra đều ủy cho các khanh cả". Bọn Lý Nhân Nghĩa lạy hai lạy tạ Thái tử, rồi sai binh lính, mở toang cửa điện, xông pha cự địch. Khí thế lúc ấy cao lắm, lấy một địch trăm. Tình thế chưa phân thắng bại, Phụng Hiểu sĩ khí dâng cao, tức giận rút gươm dẫn quân đến thẳng cửa Quảng Phúc, hét lớn: "Bọn Vũ Đức Vương ngấp nghé ngôi báu, không coi vua nối vào đâu, trên quên ơn Tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vì thế thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng". Nói rồi cầm gươm lao thẳng tới chỗ ngựa của Vũ Đức Vương. Vương quay ngựa tránh, ngựa quy xuống, bị Phụng Hiểu bắt giết. Phù binh của tam vương thua chạy, quan quân đuổi theo truy sát, cuối cũng chỉ còn tàn quân cùng Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương sống sót. Phụng Hiểu trở về báo tin cho Thái tử biết, Thái tử đáp: "Ta sở dĩ gánh vác được cơ nghiệp của Tiên đế, toàn vẹn được thân thể của phụ mẫu là đều nhờ công của các khanh cả. Ta thường em sử nhà Đường thấy Uất Trì Kính Đức giúp nạn vua, tự nghĩ là bề tôi ngày sau không ai sánh được. Nhưng nay gặp biến nạn, mới biết Phụng Hiểu còn trung dũng hơn Kính Đức nhiều".

Thái tử Phật Mã lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Thành.

Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương đến cửa khuyết xin chịu tội. Vua tha cho, đồng thời ban lại chức tước như cũ.

Khai Quốc Vương, cũng là một người con của Lý Thái Tổ, đóng ở phủ Trường Yên (Hoa Lư trước đây), hay tin Thái Tổ băng, Vũ Đức Vương bị giết, bất bình, liền toan đem phù quân về kinh làm phản.

Lý Thái Tông thân chinh đến Trường Yên, giao Kinh sư lại cho Lý Nhân Nghĩa. Thấy sỹ khí quân sĩ triều đình quá lớn, Khai Quốc Vương đầu hàng. Vua lệnh cho quân sĩ vào phủ Trường Yên không được phép cướp bóc của dân, ai cướp bóc của dân phạt chém. Vì thế, quân sĩ ai nấy không mảy may lấy bất kì thứ gì. Dân trong thành khi thấy đại quân vào thành còn dâng biếu trâu rượu đứng đầy đường. Vua xuống chiếu dời Khai Quốc Vương và các liêu trực thuộc về kinh đô Thăng Long. Vua từ phủ Trường Yên về kinh, xuống chiếu tha tội cho, vẫn phong chức tước như cũ.

Cũng vì sự phản nghịch ấy, Lý Thái Tông đã lập lệ, hằng năm các quan phải đến Đồng Cổ, làm lễ đọc lời thề: "Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu, bất trung, xin quỷ thần làm tội."

Ngoài định yên nội biến, Lý Thái Tông cũng có nhiều công lớn trong việc chống giặc ngoại. Dẹp giặc Chiêm Thành, Ai Lao. Dẹp giặc Nùng ở châu Quảng Nguyên. Vào năm Giáp Thân (1044) vua thân chinh đánh Chiêm Thành, tiến đánh đến tận quốc đô là Phật Thệ, bắt về hơn 5000 người Chiêm Thành,ban đất ruộng, lập phường ấp mà làm ăn.

Lý Thái Tông trị vì được 27 năm, đến năm Giáp Ngọ (1054) băng hà. Sau Lý Nhật Tôn lên thay.

Nguồn tham khảo: Đại Việt Sử ký Toàn thư, Việt Nam Sử lược.

Vua Lý Thái Tông là người nhân nghĩa, cơ trí. Lấy nhân nghĩa làm đầu, trước sự các vương làm phản, sau khi dẹp yên, vẫn không hủy tước hiệu, vẹn toàn đạo nghĩa. Lấy nghĩa trị dân, ắt được lòng dân, vì thế, sau buổi biến loạn, hầu hết thời gian cai trị của mình, tình hình trong nước khá yên bình. Có lẽ, chỉ có việc giết Vũ Đức Vương là vết đen lớn nhất đời ông. Nhưng nhà đế vương, bao giờ chẳng thế, chuyện huynh đệ tranh đấu là chuyện thường tình, hơn thế, tài đức của vua khi cai trị đất nước cũng đã đủ để người đời sau phải ghi công, lưu danh muôn đời.


Hình vẽ phỏng theo quy chế thường phục thời Lý. Theo Ngàn năm áo mũ, thường phục của vua là đoàn lĩnh, viên lĩnh (Cổ tròn) có màu vàng sẫm, có hoặc không có thêu hoa văn rồng ổ, còn quy chế mũ mão chưa có tài liệu hay hiện vật gì. Việc khảo cổ của nước ta đang trong đà phát triển, tuy nhiên, vẫn còn nhiều thắc mắc chưa thể làm sáng tỏ. Việc khảo cổ còn liên quan nhiều đến sử sách của Trung Quốc và các nước đồng văn khác nữa, việc tìm hiện vật của các triều đại phong kiến Việt Nam rất cần những người tâm huyết và tỉ mỉ. Hiện nay có rất nhiều hiện vật về Kinh thành Thăng Long được trưng bày trong tầng hầm của Tòa nhà Quốc hội (Tòa nhà Quốc hội nằm trên một phần thành Thăng Long xưa). Nếu có thể mình sẽ tìm kiếm thêm thông tin để chia sẻ, mong một ngày mình được tận mât chứng kiến các Bảo vật Quốc gia ấy trực tiếp. Trong tranh của mình, Lý Thái Tông mặc giao lĩnh, thường thì mặc màu đỏ , khoác ngoài đoàn lĩnh có một số nguồn không chính thức cho rằng vua triều Lý có thể mặc bạch bào thay vì hoàng bào. Còn mũ trong tranh là mũ phù dung, thường dùng dưới triều Trần, mũ phù dung còn một dạng khác, có lẽ mình sẽ cố gắng vẽ trong những bài viết về nhân vật triều Trần. Còn loại mũ phù dung này, mọi người có thể gặp qua trong phim 'Trường An mười hai canh giờ' với nhân vật Lý Tất (Dịch Dương Thiên Tỉ thủ vai) có sử dụng loại mũ phù dung này. Có thể với vua chất liệu dùng vàng thay vì ngọc như trong phim ấy.

Bản vẽ có tham khảo Ngàn năm áo mũ và một số bản vẽ từ Phòng tranh cu tí, Sử Việt kiêu hùng Artbook. Xin chân thành cảm ơn.

Bình luận


Đăng ký để nhận những bài viết tiếp theo từ mình nhé!

Cảm ơn đã đăng kí.

© 2023 by The Book Lover. Proudly created with Wix.com

  • YouTube
  • Instagram
  • Facebook
bottom of page