top of page

LÝ THƯỜNG KIỆT

  • Ảnh của tác giả: Tạp nham
    Tạp nham
  • 26 thg 5, 2020
  • 6 phút đọc

Khu di tích đền thờ Lý Thường Kiệt (Tam Giang, Yên Phong), tỉnh Bắc Ninh.

Lý Thường Kiệt tên húy là Tuấn. Quê ở phường Thái Hòa, nằm bên hữu Thăng Long. Họ thật của ông chưa xác định rõ, có hai giả thuyêtr nói về họ của ông. Đầu tiên, ông có thể mang họ Ngô, đây là ghi chép mà hiện nay phổ biến hơn cả. Theo giả thuyết này, ông là con của Sùng ban Lang tướng Ngô An Ngữ, cháu của Sứ quân Ngô Xương Xí, chắt của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập - con trai trưởng của Ngô Quyền. Giả thuyết thứ hai, ông có thể mang họ Quách, quê ở làng An Xá, huyện Quảng Đức sau cải thành phường Thái Hòa như nhiều sách sử ghi nhận. Cha làm Thái úy thời Lý Thánh Tông, tên là Quách Thịnh Ích (Quách Thịnh Dật). Giả thuyết này dựa theo bia 'An Hoạch Báo Ân tự bi ký' (lập năm 1100) và bia 'Cồ Việt Quốc Thái úy Lý Công thạch bi minh tính tự' (lập năm 1159) được dịch trong cuốn 'Văn bia thời Lý - Trần'. Sau ông được Vua ban họ Lý, và thường được gọi là Lý Thường Kiệt như chúng ta vẫn hay nghe.

Tạo hình Lý Thường Kiệt của nhóm tác giả Việt Sử Kiêu Hùng trong dự án Đuốc Mồi

Ông là một hoạn quan. Làm quan dưới ba đời vua, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Ông được phong làm 'Thiên tử nghĩa đệ' (huynh đệ kết nghĩa của vua) do Lý Thánh Tông ban cho ông sau khi chinh phạt Chiêm Thành. Năm 1072, Lý Thánh Tông Mất, con trai là Càn Đức lên thay, miếu hiệu là Lý Nhân Tông. Lý Nhân Tông lúc này còn nhỏ, chính sự đều do Thượng Dương Hoàng thái hậu định đoạt. Sau khi vua thân chính, nghe lời mẹ đẻ là Nguyên phi Ỷ Lan lúc này đang làm Hoàng thái Phi, giam Hoàng Thái hậu cùng 76 cung nữ (một số nguồn khác có dẫn là 72) rồi bức chết táng cùng Thánh Tông. Tôn mẹ ruột lên làm Hoàng Thái hậu. Lý Thường Kiệt lên làm Phụ Chính.

Lý Thường Kiệt nổi danh với cuộc chiến Ung Châu. Lúc bấy giờ Tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch ra phép cải tổ chính trị, gây nhiều vấn đề trong dân chúng. Đồng thời, nhà Tống lúc ấy đang bị các nước là Bắc Liêu và Tây Hạ ức hiếp. Vì thế, để hướng sự chú ý của dân chúng ra bên ngoài, vua nhà Tống có ý định tiến đánh Giao Châu. Cho rèn binh khí, đồng thời không giao thương với ta. Lý triều thấy thế, có viết thư sang hỏi vua Tống, nhưng giữa đường bị Lưu Di, là tri châu Quế Châu giữ lại, không đệ về kinh. Lý triều tức giận, sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản, dẫn theo 10 vạn quân theo hai đạo thủy bộ, tiến đánh sang nhà Tống, đi đường, có bạn lộ bố, đại ý rằng các cải cách của nhà Tống là khổ trăm họ. Lý Thường Kiệt đánh đến Khâm Châu và Liêm Châu, giết được hơn 8 ngàn quân nhà Tống. Tôn Đản dẫn quân tiến đánh thành Ung Châu. Quan đô giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết hay tin, đem binh cứu thành, nhưng bị Lý Thường Kiệt chặn đánh ở Côn Luân quan, Trương Thủ Tiết bị Lý Thường Kiệt chém chết ở trận tiền. Đạo quân của Tôn Đản vây thành Ung Châu hơn 40 ngày. Quan tri châu là Tô Giám kiêm cố giữ thành. Sau cho quân chồng bao đất mà chèo vào thành, thành Ung Châu thất thủ, Tô Giám tự thiêu mà chết. Quân của Lý Thường Kiệt và Tôn Đản vào thành, người trong thành không ai chịu phục, quân ta giết gần 5 vạn 8 ngàn người. Cả ở hai châu Khâm Liêm, khoảng hơn 1 vạn người nữa. Đạo quân dẫn tù binh từ ba thành mang về nước.

Nhà Tống hay tin, tức giận lắm, bèn sai Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm Phó sứ, cùng với 9 vị tướng quân, dẫn binh hợp cùng Chân Lạp và Chiêm Thành tiến đánh Đại Việt. Để chuẩn bị cho trận chiến này, Tống phải chịu nhượng bộ với Bắc Liêu và Tây Hạ để dồn tổng lực tiến đánh Đại Việt. Tháng Chạp năm 1076, quân Tống vào địa hạt nước ta. Lý triều sai Lý Thường Kiệt dẫn binh chặn đánh địch. Lý Thường Kiệt lấy bờ sông Như Nguyệt, xây dựng phòng tuyến vừng chắc, đắp đê cao như tường thành, lấy tre làm dậu, tầng tầng lớp lớp. Có mấy phen, quân Tống tràn qua được bờ bên này sông Như Nguyệt, nhưng lại bị quân của Lý Thường Kiệt đẩy lùi. Viện binh của quân Tống, theo đường thủy, do Hòa Mân và Dương Tiểu Tùng chỉ huy nhưng cũng bị quân ta do Lý Kế Nguyên chặn đánh. Lý Thường Kiệt dùng chiến thuật tâm lý, giữa đêm khuya, có giọng nói vang vọng:

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

Binh sỹ lúc ấy sỹ khí dâng cao, đồng lòng cự địch. Đêm đó, quân ta do hai tướng là Hoàng Chân và Chiêu văn tập kích đánh vào trại của Quách Quỳ, nhưng do lực lượng địch đông, vả lại cũng là trại địch, hai tướng phải cho quân rút về. Lúc quân ta rút, Quách Quỳ cho quân sử dụng máy bắn đá, nã vào thuyền của ta, quân ta chết hơn ngàn người. Nhưng trong lúc quân của hai tướng tập kích Quách Quỳ, Lý Thường Kiệt đã âm thầm dẫn quân tiến đánh Triệu Tiết, quân của Triệu Tiết không kịp phản công, thất bại thảm hại trước đạo quân của Lý Thường Kiệt. Quân Tống bấy giờ không quen thủy thổ nước ta, lại chịu nhiều tổn thất mà không thể tiến thêm. Quân ta lúc bấy giờ cũng tổn thất nặng nề, Lý Thường Kiệt thấy khó lòng mà đánh thắng được trong sớm chiều, bèn gửi thư cầu hòa tới Quách Quỳ, hắn vội chấp nhận rút quân. Tuy nhiên, khi Quách Quỳ tiến vào nước ta, châu Quảng Nguyên, Tư Lang, Tô Châu, Mậu Châu đã bị chiếm đóng. Sau Lý Nhân Tông sai người qua đòi lại đất nạm Quảng Nguyên, nhà Tống ưng thuận, nhưng yêu cầu trả người ba châu Khâm Liêm và Ung lại. Vua Nhân Tông trao trả, cả thảy có 221 người, con trai trên 15 tuổi thích vào trán 'Thiên tử binh', trên 20 thích 'Đầu Nam triều', con gái thích vào tay hai chứ 'Quan khách'.

Sau trận chiến nảy lửa với quân Tống, trước khi mất, Lý Thường Kiệt còn cầm quân tiến đánh Chiêm Thành, thu lại ba châu là Ma Linh, Bố Chính và Địa Lý, lúc bấy giờ Lý Thường Kiệt đã ngoài 70.


Nguồn: Việt Nam Sử lược, Đại Việt Sử ký Toàn Thư, Khâm định sử Việt thông giám cương mục, Việt Điện U Linh tâp, Wikipedia, project Lý Thường Kiệt đại chiến Như Nguyệt Giang của Sử Việt kiêu hùng,...

Giáp trụ này mình vẽ tham khảo quy chế giám trụ thời Lý - Trần trong bài viết 'Lý - Trần sắc phục sơ khảo (phần kết)' của page Nam Văn Hội Quán.

Nhận xét cá nhân: Lý Thường Kiệt mặc dù là một hoạn quan, nhưng lại mang một nguồn sức mạnh cực kỳ vĩ đại. Ông là một anh hùng lớn của dân tộc, đánh Nam, dẹp Bắc. Có rất nhiều câu chuyện xoay quanh ông, về tình cảm của ông với Dương Hồng Hạc, sau là Thượng Dương Hoàng hậu, về ông và vua Lý Thánh Tông, và cả những lý do khiến ông trở thành hoạn quan. Nhưng suy cho cùng, có mấy vị hoạn quan làm rực rỡ quốc gia như ông, mấy vị anh dũng, hào kiệt như ông. Đến cuối đời, dù đã hơn 70 tuổi, ông vẫn là một vị tướng tài ba. Và hơn thế nữa, ông còn là 'Đệ nhất mỹ nam tử' thời bấy giờ.

Bình luận


Đăng ký để nhận những bài viết tiếp theo từ mình nhé!

Cảm ơn đã đăng kí.

© 2023 by The Book Lover. Proudly created with Wix.com

  • YouTube
  • Instagram
  • Facebook
bottom of page